Lệnh truy nã

Cơn mưa rừng dai dẳng như trút nước xuống bãi vàng Khe Tăng (Phước Sơn, tỉnh Quảng Nam). Trên con đường mòn lầy lội dẫn vào bãi vàng, ba người đàn ông khoác balô lầm lũi đi trong đêm. Họ chính là những điều tra viên đang trên đường tầm nã tên sát thủ đặc biệt nguy hiểm Nguyễn Việt Hưng.

Nhiệm vụ tuyệt mật

Nguyễn Việt Hưng (tức Hưng “mi nhon”) là hung thủ trực tiếp bắn chết Vũ Hoàng Dung, tức Dung “hà”, một đối trọng của Năm Cam trước đây. Sau khi gây án, Hưng mang theo khẩu rulô bỏ trốn. Cuối năm 2001, vụ án Năm Cam nổ ra.

Từ lời khai của Nguyễn Tuấn Hải (Hải “bánh”), ban chuyên án xác định Nguyễn Việt Hưng là mắt xích quan trọng nhất của vụ án. Bắt được Hưng thì nút thắt sẽ được tháo gỡ, đồng nghĩa với việc chứng minh vai trò chủ mưu của Năm Cam sẽ trở nên dễ dàng hơn. Trước đòi hỏi cấp bách này, ban chuyên án đã ra quyết định truy nã đặc biệt (truy nã đỏ) Nguyễn Việt Hưng trên toàn quốc.

Các mũi trinh sát được tung đi khắp nơi, nhưng thông tin về Hưng ngày càng mờ mịt. Do biết “đại ca” Hải “bánh” (bị bắt) và “chiến hữu” Nguyễn Xuân Trường (đầu thú) khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, Hưng như con thú cùng đường tìm cách lẩn trốn sự truy đuổi gắt gao của công an.

Giữa lúc tình hình đang “dầu sôi lửa bỏng”, ban chuyên án nhận được thông tin từ cơ sở báo về tại bãi vàng Khe Tăng, thuộc thôn 2, xã Phước Thành, huyện miền núi Phước Sơn (tỉnh Quảng Nam, giáp ranh tỉnh Kontum) xuất hiện một nhân vật tên Hùng “trọc” có đặc điểm nhận dạng khá giống Nguyễn Việt Hưng. Tên này nghiện nặng và có dấu hiệu chuẩn bị rời khỏi bãi vàng. Sau khi rà soát lại nguồn tin, ban chuyên án xác định đây chính là sát thủ Nguyễn Việt Hưng, nếu không tiến hành tổ chức truy bắt nhanh thì y sẽ băng rừng qua Kontum (cách nửa ngày đường), từ đó trốn sang Campuchia.

Ban chuyên án quyết định giao nhiệm vụ truy bắt Nguyễn Việt Hưng cho thiếu tá Nguyễn Đại Sơn và trung tá Đặng Văn Chính, điều tra viên Cục Cảnh sát điều tra Bộ Công an (C16). Đây là hai cán bộ giỏi nghiệp vụ, có nhiều kinh nghiệm săn bắt cướp và truy nã tội phạm. Thiếu tá Sơn còn có lợi thế 20 năm công tác tại Công an Quảng Nam nên rất thông thạo địa bàn và có mối quan hệ sâu rộng với cơ sở.

Đích thân trung tướng Nguyễn Việt Thành (trưởng ban chuyên án) trực tiếp triển khai kế hoạch và truyền đạt mệnh lệnh của thượng tướng Lê Thế Tiệm (thứ trưởng Bộ Công an) “bằng mọi giá phải bắt bằng được Hưng nhưng phải bảo đảm chính xác, an toàn và tuyệt đối bí mật”. Nhiệm vụ hết sức nặng nề và nguy hiểm, nhưng trước yêu cầu cấp bách của ban chuyên án nhằm phục vụ công tác điều tra, các điều tra viên hạ quyết tâm “bằng mọi giá phải bắt bằng được Hưng”, dù có hi sinh tính mạng.

Vào “hang cọp”

Chuyến đi của hai điều tra viên được giữ bí mật tuyệt đối, kể cả đồng đội và người thân. Sau bữa cơm chiều vội vã với gia đình, hai điều tra viên ra sân bay Tân Sơn Nhất để kịp chuyến bay đi Đà Nẵng. 19 giờ ngày 29-1-2002, họ đáp xuống sân bay Đà Nẵng, một chiếc xe du lịch chờ sẵn đón hai người lao nhanh về hướng thị xã Tam Kỳ (Quảng Nam).

Trên xe, ngoài tài xế còn có thiếu tá Nguyễn Hữu Lài, cán bộ PC14 Công an Đà Nẵng, được ban chuyên án tăng cường hỗ trợ tổ công tác. Về đến Tam Kỳ đúng 11 giờ khuya, chưa kịp nghỉ ngơi ăn uống, các anh thuê một phòng trọ để hội ý và lên kế hoạch tác chiến. Theo kế hoạch, thời gian hành động diễn ra từ 3 giờ sáng vì đây là lúc dân đào vàng đang còn say giấc. Hội ý xong, tổ công tác lên đường đi Phước Sơn ngay trong đêm.

6 giờ sáng, các anh đến thị trấn Phước Sơn. Tìm nơi giấu xe (nếu để lộ thì các tội phạm ở bãi vàng sẽ trốn vào rừng), các anh vào chợ mua balô, giày vải, nước uống, lương khô…, cải trang thành ba người đi bán kíp mìn để thâm nhập bãi vàng. 8 giờ, trời lác đác mưa, tổ công tác men theo con đường mòn của dân đãi vàng mà đi.

Tại cửa rừng, các anh gặp một “chốt” kiểm tra chặn lại. Một người giơ cao chiếc gậy trước mặt thiếu tá Sơn: “Tụi bay đi đâu?”. Thiếu tá Sơn hạ giọng: “Tụi em lên bãi vàng”. “Mỗi thằng một trăm ngàn”. Sơn ngơ ngác hỏi: “Tiền gì?” thì được trả lời: “ĐM, tiền đường chứ tiền gì”. Sơn dằn lòng móc túi 300.000 đồng bỏ vào chiếc mũ để sẵn (từ cửa rừng lên bãi vàng các anh còn phải nộp “tiền đường” đến tám lần). Vào đến thôn 2, xã Phước Thành lúc trời chạng vạng tối. Mệt và đói lả, các anh ghé vào một lán bỏ hoang ngả lưng.

Mờ sáng hôm sau (31-1), tổ công tác tiếp tục lên đường. 4 giờ ngày 1-2, tổ công tác đặt chân đến chân núi Khe Tăng. Xác định vị trí lán “tướng” (cai vàng), Sơn ép mình bò sát vào. Qua khe cửa, anh nhìn thấy hơn chục người đang ngủ say. Sơn gõ nhẹ lên cánh cửa liếp. Một giọng nói bực tức vọng ra: “Cái gì đấy?”.

Sơn nhỏ nhẹ: “Anh ơi, chúng em có mấy trăm kíp mìn muốn bán rẻ để có tiền về quê ăn tết”. Một gã đàn ông ló mặt ra cửa nhìn Sơn chằm chằm. Sơn nhận ra đó chính là Hát – một “phó tướng” khét tiếng ở bãi vàng. Hát hất hàm: “Bao nhiêu một kíp?”. Sơn đáp: “Dạ bốn ngàn” (giá mua tại bãi vàng là năm ngàn đồng). Hát quát lớn: “Cút cho tao ngủ”, rồi đóng sập cửa.

Trời chuyển dần về sáng. Sơn hội ý nhanh với đồng đội rồi quay lại lán. Lần này anh đập thật mạnh lên tấm cửa liếp. Tên Hát tức giận vùng dậy thò đầu ra định “tung chưởng” vào kẻ dám phá giấc ngủ của y, nhưng thiếu tá Sơn đã nhanh tay chụp lấy cổ áo, đồng thời thọc họng súng K54 vào bụng y, giọng đanh gọn: “Hát, mở cửa. Chúng tao đi bắt tội phạm nguy hiểm. Nếu chống cự tao bắn”.

Hát run rẩy: “Các anh đừng bắn, để em mở cửa”. Cánh cửa vừa bật ra, các điều tra viên ào vào giở mặt từng tên một nhưng không thấy Hưng. Sơn đưa hình Nguyễn Việt Hưng cho từng người nhận dạng. Hát cho biết người trong hình hao hao giống tên Hùng “trọc”, mới lên cách đây hai tuần. “Thằng này rất hung dữ. Nó mới vào bãi mấy hôm mà đã thành “tướng” rồi, tụi em không quản nổi”, Hát nói.

Thiếu tá Sơn khống chế buộc Hát dẫn đường đi tìm Hùng “trọc”. Đến lán quân, tổ công tác mất gần 15 phút tìm kiếm nhưng bóng dáng tên Hưng vẫn bặt tăm. Lúc này đã gần 5 giờ sáng, không thể bỏ cuộc, các anh ra hiệu cho Hát dẫn lên lán khác. Đến lán thứ ba, tổ công tác phát hiện bên trong có khoảng 20 người đang trùm chăn ngủ. Sơn nhẹ nhàng lách người vào trong. Anh giở mặt từng người một kiểm tra. Người thứ nhất, thứ hai không phải Hưng.

Đến người thứ ba, Sơn dừng lại vài giây. Gã thanh niên này trông giống Hưng “mi nhon” quá. Để chắc ăn, anh lật áo lên xem. Trên ngực gã thanh niên hiện ra con đại bàng đang sải cánh, bên cánh tay trái xăm hình con rồng, tay phải xăm mũi tên xuyên qua quả tim, hai bắp đùi là hai con hổ, mười ngón chân là mười con bò cạp. Sát thủ Nguyễn Việt Hưng đây rồi.

Sơn móc còng số tám bập vào hai tay gã thanh niên. Tên này tỉnh giấc vùng dậy như con hổ, la lớn: “Cháu co tội gì mà bắt cháu”. Sơn quát lớn: “Có phải mày là Nguyễn Việt Hưng không?”. Gã thanh niên ngoan cố: “Không phải, cháu là Hùng”. Sơn móc tiếp chiếc còng thứ hai bập vào hai chân Hưng đề phòng y bỏ chạy. Chỉ cần vài động tác nghiệp vụ, gã thanh niên cúi đầu thừa nhận y chính là sát thủ Nguyễn Việt Hưng. Mọi người thở phào nhẹ nhõm.

Lúc này đồng hồ chỉ 5g35 ngày 1-2-2002. Tổ công tác đưa Nguyễn Việt Hưng rút nhanh ra khỏi bãi vàng nhằm tránh những tình huống bất trắc có thể xảy ra. Trên đường đi, hai lần Hưng lên cơn nghiện sùi bọt mép, báo hại các anh phải xoay xở hết sức khó khăn mới đưa y về đến Công an huyện Phước Sơn an toàn.

Chiều 3-2 tổ công tác quay ra Đà Nẵng đón chuyến bay đi TP.HCM. Xuống sân bay Tân Sơn Nhất, chiếc xe đặc chủng của cảnh sát chở Hưng lao nhanh về trại giam Bộ Công an. Tại “tổng hành dinh” ban chuyên án, tướng Nguyễn Việt Thành nở nụ cười tươi khi thấy bóng dáng hai sĩ quan lành lặn trở về.

Chiều 4-1-2002, sau một đêm được dẫn giải về trại giam Bộ Công an, Nguyễn Việt Hưng được gọi lên lấy lời khai. Ngồi đối diện y là trung tá Đặng Văn Chính và thiếu tá Nguyễn Đại Sơn. Nguyễn Việt Hưng đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Từ lời khai của Nguyễn Việt Hưng, cơ quan điều tra đã củng cố hồ sơ và làm rõ vai trò chủ mưu của Năm Cam trong vụ giết Dung “hà”. Tại phiên tòa sơ thẩm và phúc thẩm, hội đồng xét xử đã tuyên phạt Nguyễn Việt Hưng cùng Trương Văn Cam, Nguyễn Hữu Thịnh, Phạm Văn Minh và Châu Phát Lai Em án tử hình. Ngày 3-6-2004, tại trường bắn Q.9 (TP.HCM), Nguyễn Việt Hưng cùng đồng bọn đã phải đền tội trước những gì mà chúng đã gây ra.

(báo Tuổi Trẻ)

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: